Tuesday, July 7, 2009

Anh hùng Vô danh: Chiến sĩ của Nha Kỹ Thuật



Orlando, Florida.- Nha Kỹ Thuật là một cơ quan tình báo chiến lược của QLVNCH. Đây không phải là một đơn vị tình báo thuần túy như Quân báo hay Phòng 2/TTM. Danh từ Nha Kỹ Thuật thật ra chỉ là cái tên, cái võ bề ngoài để che dấu nhiệm vụ hoạt động bí mật (underground-activities) không những đối Cộng Sản mà còn đối với các đơn vị bạn. Chính danh của Nha Kỹ Thuật/TTM là “Bộ Tư Lệnh Chiến Tranh Ngoại Lệ” (Unconventional Warfare). Bộ này được giao phó trách nhiệm thi hành những công tác đặc biệt, ngoại lệ hay bất quy ước, hoạt động song song với MACVSOG của Hoa Kỳ.

Vì “bí mật” nên khó có một ai tự nhận mình hiểu rõ cơ cấu tổ chức này. Theo tài liệu, cơ quan này được chính thức thành lập kể từ đầu năm 1964 và tiếp tục hoạt động cho đến cuối tháng Tư năm 1975. Sự thực thì công tác điệp báo quan trọng tại miền Bắc đã khởi sự thực hiện vào đầu năm 1961. Nhân viên điệp báo hoạt động dưới hình thức cá nhân hay từng nhóm nhỏ và được tổ chức dưới trách nhiệm của Sở Khai Thác Địa Hình/Phòng E để việc phối hợp và yểm trợ được dễ dàng và hữu hiệu hơn.

Vào năm 1964 Phòng E được tách rời khỏi Lực Lượng Đặc Biệt, được tổ chức thành Sở Khai Thác, sau đó sở Khai Thác được cải danh là Sở Kỹ Thuật . Vào năm 1965 Sở Kỹ Thuật được nâng lên thành Nha Kỹ Thuật cho phù hợp với tổ chức và nhiệm vụ.

Về tổ chức, ngoài Bộ Chỉ Huy, Nha Kỹ Thuật có chín sở, gồm hai Sở Tác Chiến (Sở Liên Lạc và Sở Công Tác) còn các sở còn lại là yểm trợ hay chuyên môn. Ngoài ra Sở Tâm Lý chiến tuy là một cơ cấu tham mưu nhưng được giao phó nhiều kế hoạch tâm lý chiến đặc biệt như điều hành các hệ thống phát thanh mật. Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng tại Long Thành đảm trách việc huấn luyện cho nhân viên công tác.

Tổ chức và nhiệm vụ của Nha Kỹ Thuật/TTM được thay đổi theo nhu cầu tình báo cũng như tình hình quân sự và chính trị, đặc biệt là đường lối của Hoa Kỳ đối với cuộc chiến tại VN. SOG (Studies Operation Group) thuộc MACV được thành lập để thay thế cho cơ quan tình báo Combined Studies , có nhiệm vụ cố vấn, huấn luyện và yểm trợ cho Nha Kỹ Thuật trong mọi nhu cầu cần thiết để thi hành các cuộc hành quân đặc biệt.

Cơ quan MACV/SOG cũng tổ chức các toán hành quân riêng, do quân nhân thuộc Lực Lượng Đặc Biệt HK chỉ huy công tác vượt biên. Hai cơ quan MACVSOG và Nha Kỹ Thuật đã hợp tác mật thiết tại Bộ Chỉ Huy Nha cũng như tại các đơn vị trực thuộc trong suốt thời gian từ 1964 đến 1972, như chương trình OPLAN 34 (Nhảy Bắc, trước năm 1964) và OPLAN 35 (sau năm 1964). Sau đây là một vài công tác đặc biệt quan trọng của Nha Kỹ Thuật/TTM được MACVSOG yểm trợ và phối hợp hoạt động.

1.Công tác Không Vận Dài Hạn tại Miền Bắc: MACVSOG phối hợp với Nha Kỹ Thuật tiếp tục các hoạt động tình báo xâm nhập miền Bắc. Ngoài nhiệm vụ thu thập và báo cáo tin tức tình báo, các toán sẽ được giao phó công tác phá hoại và đánh phá các mục tiêu quân sự. Nhiều toán đã mất liên lạc ngay sau khi xâm nhập hoặc chỉ liên lạc với TrungƯơng trong một thời gian ngắn. Một số đã bị bắt nhưng vẫn duy trì liên lạc trong một thời gian dưới sự điều động và kiểm soát của CS.

Các toán nhỏ đã xâm nhập hoạt động tại miền Bắc trong kế hoạch tình báo đặc biệt dài hạn. Biệt kích miền Nam đã xâm nhập nhiều khu vực quan trọng tại vùng Đông Bắc như Cao Bằng, Sơn La, Lai Châu… Kế hoạch, đã gây nhiều xáo trộn và lo lắng cho CS Bắc Việt.

2.Công Tác Không Vận Ngắn Hạn tại miền Bắc: Năm 1967 Nha Kỹ Thuật/SOG đặt kế hoạch tổ chức các toán hành quân ngắn hạn. Mục tiêu được ấn định là từ vĩ tuyền 17 đến vĩ tuyến 20, khoảng 120 dậm. Tùy nhiệm vụ, toán có thể 4-8 nhân viên để dễ dàng xâm nhập và triệt xuất. Thời gian hành quân có thể kéo dài từ 15 đến 30 ngày. Nhiệm vụ chính là quan sát và báo cáo mọi tin tức liên quan đến hoạt động của các đơn vị CS. Nhiệm vụ phụ là đặt mìn cá nhân, bắt cóc tù binh để khai thác tin tức và rải tài liệu tâm lý chiến trong vùng hành quân. Phương tiện xâm nhập và triệt xuất là trực thăng CH3 do các phi hành đoàn HK đảm trách. Đa số các phi vụ yểm trợ đặt tại Thái Lan.

3.Công tác Vượt Biên - Vào những năm 1964-1965 Bắc Việt ồ ạt đổ quân vào miền Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh, dọc theo hành lang biên giới Lào-Việt và Miên-Việt. Do đó Bộ TTM và MACV quyết định tổ chức những cuộc hành quân vượt biên để quan sát và chỉ điểm mục tiêu giúp các cuộc oanh kích của Không lực HK, đặc biệt B52 được thực hiện chính xác hơn.

4. Công tác đặc biệt ngắn hạn, công tác này đựơc giao phó với nhiệm vụ tổ chức các cuộc hành quân thám sát và phá rối hậu tuyến địch. Mặc dầu thường xuyên đụng độ địch sau khi xâm nhập, các toán công tác đã thâu lượm và báo cáo nhiều tin tức tình báo có giá trị.

5.Công tác Hải Vận - Sở Phòng Vệ Duyên Hải: Được chính thức thành lập năm 1964, ngoài công tác không vận, cơ quan tình báo HK còn phối hợp và yểm trợ kế hoạch xâm nhập nhân viên điệp báo, hoạt động nằm vùng tại Bắc Việt bằng đường biển. Lúc đầu phương tiện hải vận xâm nhập vào khu vực mục tiêu bằng thuyền máy. Sau đó thuyền máy được thay thế bằng những chiến đỉnh .


6. Công tác Tâm lý chiến. Sở Tâm Ly chiến là một tổ chức rộng lớn và quan trọng, có trách nhiệm điều động một hệ thống tâm lý chiến và phát thanh mật. Kế hoạch bao gồm nhiều công tác yểm trợ trực tiếp cho phong trào “Gươm Thiêng Ái Quốc”, là một mặt trận “giả tưởng”, xuất phát từ miền Bắc. Đài Gương Thiêng Ái Quốc là một trong nhiều đài thuộc hệ thống phát thanh mật. Đài “Tiếng Nói Tự Do” là một hệ thống phát thanh hướng về Miền Bắc. Hai đài được thiết lập ở Vùng I Chiến Thuật. Đàì phát tuyến ở Thanh Lam, Huế và Cồn Tre ở Quảng Trị, gần vĩ tuyến 17. Hai đài có tầm hoạt động rộng lớn bao gồm toàn lãnh thổ miền Bắc, vượt khỏi vùng biên giới Hoa -Việt.

Sau Tết Mậu Thân, HK muốn xúc tiến hòa đàm với CS Bằc Việt nên toàn bộ công tác đặc biệt ở miền Bắc phải chấm dứt cuối Tháng 3, 1968, ngay sau khi HK quyềt định ngưng oanh tạc Bắc Việt..

Tinh thần anh dũng cũng như sự hy sinh cao cả của những chiến sĩ Nha Kỹ Thuật thực sự không thể diễn tả được bằng lời nói hay bằng ngòi bút. Họ là những người đã âm thầm hoạt động trong bóng tối, âm thầm bảo vệ đất nước, quê hương VN bằng những việc làm phi thường, ngoài sự hiểu biết của mọi người. Nhân dân Việt Nam không mấy ai biết rõ về công lao đóng góp xương máu của họ, cũng chưa một ai, có một lời nhắc nhở hay vinh danh họ. Họ thực sự là NHỮNG ANH HÙNG VÔ DANH:

“ Họ là những anh hùng không tên tuổi
Sống âm thầm trong bóng tối mênh mông
Không bao giờ được hưởng ánh quang vinh
Nhưng can đảm và tận tình giúp nước…”

Chiến Sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc từ đâu mà ra


Những chiến sĩ biệt kích thuộc Toán Strata trước ngày xâm nhập ra Bắc vào Tháng Mười Một, 1967. (Hình: Biệt Kích Nhảy Bắc cung cấp)
Bài II: Chiến Sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc từ đâu mà ra

Nguyên Huy/Người Việt

Nơi tuyển mộ, huấn luyện, đào tạo những người chiến sĩ can trường Biệt Kích Nhảy Bắc là Nha Kỹ Thuật, hậu thân của Sở Kỹ Thuật có tiền thân là Sở Bắc trong thời Ðệ I VNCH.

Sự thành lập cơ quan “tình báo chiến lược” của VNCH này phát xuất từ giới lãnh đạo thượng đỉnh Hoa Kỳ, thời chính phủ Kennedy. Theo những tài liệu đã được bạch hóa thì vào năm 1962, Tổng Thống Hoa Kỳ John F. Kennedy quyết định chuyển giao nhiệm vụ tiến hành các hoạt động bí mật chống Hà Nội từ CIA sang cho Bộ Quốc Phòng. Một đơn vị đặc biệt của Lầu Năm Góc được giao phụ trách và được trực tiếp chỉ huy bởi Chủ Tịch Tham Mưu Liên Quân. Tổ chức trực tiếp thi hành tại Việt Nam là cơ quan SOG trong MACV. Thế có nghĩa là hoạt động chiến tranh bí mật chống Hà Nội trước đó do CIA thực hiện thì nay được chuyển sang Bộ Quốc Phòng, quân sự hóa hoạt động tình báo này.

SOG có bốn nhiệm vụ là:

- Cài các toán gián điệp và chỉ đạo các toán ấy làm sao để tạo ra một chiến dịch nghi binh phức tạp trong đó có cả việt tuyển mộ tù binh của quân đội Bắc Việt Nam.

- Thực hiện chiến tranh tâm lý chống miền Bắc bằng cách dựng nên một phong trào chống đối giả ở Bắc Việt Nam, bắt cóc và tuyên truyền công dân Bắc Việt Nam, điều hành các đài phát thanh đen, phân phát các tài liệu tuyên truyền, viết giả các lá thư và các tài liệu giả hiệu khác.

- Trên biển: Bắt giữ và phá hủy các tàu hải quân và thuyền đánh cá của Bắc Việt Nam (các hợp tác xã ven biển) đồng thời tập kích phá hoại các cơ sở quân sự và dân sự cũng như rải các truyền đơn, tài liệu chống phá chính quyền CSBV.

- Rải các toán thám báo người dân tộc tại biên giới Lào-Việt, phá hoại đường mòn Hồ Chí Minh để ngăn cản hoạt động hậu cần của Bắc Việt cho những đơn vị bộ đội thẩm nhập vào Nam. Hoạt động thám báo này bao gồm luôn việc xác định mục tiêu không kích, bắt cóc bộ đội, đặt máy nghe trộm và rải các tài liệu chiến tranh tâm lý.

Theo một số tài liệu được kê ra trong các cuốn “Secret Army, Secret War” và “Secret War Against Hanoi” của hai tác giả Sedgwick Tourison và Richard H. Shultz thì “các chính quyền Kennedy và Johnson muốn gây áp lực với Hà Nội và làm đúng những gì mà họ đang thực hiện đối với đồng minh của Mỹ ở miền Nam Việt Nam”.

Ðối với người Việt Nam, nhất là những người di cư từ miền Bắc, ai cũng hiểu rằng, trước sau gì rồi Cộng Sản Bắc Việt cũng phải tìm cách đánh phá miền Nam trong ý đồ nhuộm đỏ Ðông Nam Á mà cộng sản quốc tế giao phó cho Hồ Chí Minh và Cộng Sản Việt Nam. Bởi vì, ngay từ thời gian cuối năm 1954, khi phong trào di cư rầm rộ nổ ra với gần cả triệu người bỏ miền cộng sản về vùng quốc gia thì CSBV đã tung ra chiến dịch được gọi là “Chiếu cố miền Nam” gài những điệp viên vào hàng ngũ di cư đồng thời gài những cán bộ ở lại miền Nam, chỉ đưa ra Bắc một phần sau khi những người trong phần này đã dan díu tình cảm cụ thể với những thiếu nữ trong vùng họ hoạt động cốt để lại những cái “nhân” để sau này dễ bề “liên hệ” trong tình cảm gia đình.

Quả nhiên, sau năm 1956, chính phủ miền Nam không thực hiện việc hiệp thương vì không ký kết vào hiệp ước chia đôi đất nước, CSBV đã phát động ngay việc phá hoại miền Nam, một mặt đổ quân vào miền Nam hình thành đường dây 559, tức đường mòn Hồ Chí Minh. Mặt khác thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam vào Tháng Mười Hai năm 1960 để lừa dối dư luận thế giới. Sự lừa dối này không chỉ có kết quả với thế giới mà ngay với người Việt ở miền Nam cũng làm cho nhiều người tưởng thật. Khi đến khi cộng sản toàn thắng ngày 30 Tháng Tư, 1975, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam và chính phủ Cộng Hòa Miền Nam đã bị CSBV giải tán ngay.

Ðó là lý do các chính phủ Kennedy và Johnson thành lập và tiến hành cuộc chiến tranh “bất quy ước”, cuộc chiến tranh bí mật chống lại CSBV. Kế hoạch được vạch ra mang tên là 34A (viết tắt của chữ OPLAN 34) bao gồm tới 72 loại hoạt động với tổng số là 2,026 điệp vụ thực hiện trong năm 1964.

Kế hoạch được vạch ra nhưng để thực hiện thì gặp phải khó khăn là “không tìm ra người phụ trách có đủ tiêu chuẩn”. Ðó là chưa kể đến sự “miễn cưỡng bàn giao” của CIA về trách vụ này cũng như về phía đối tác là Quân Lực VNCH.

Tiêu chuẩn là gì? Ðó là những hiểu biết về đất nước và con người Việt Nam, về cộng sản đã luồn sâu được vào tâm trí người dân Việt qua chiến thắng Ðiện Biên Phủ. Trong khi phía CIA đã nhận được ra rằng, “Xã hội ở Bắc Việt Nam được tổ chức chặt chẽ, không có ai được nằm ngoài tổ chức. Ðó là một xã hội phải sống trong kỷ luật và chúng ta phải thực hiện các hoạt động chống lại họ...” (Lời nhận xét của Giám Ðốc CIA William Colby). Trong khi đó thì Bộ Quốc Phòng, với McNamara thì cho rằng, CIA đã rụt rè không dám hành động và chủ trương rằng phải làm một chiến dịch lớn hơn bằng cách tung thật nhiều toán biệt kích ra Bắc.

Và những toán biệt kích nhảy Bắc được hình thành nhanh chóng.

(Còn nữa) Ngày mai, Bài III, Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật, nơi phát sinh những chiến sĩ biệt kích nhảy Bắc.

Biet Kich Nhay Bac / Nha Ky Thuat

Biệt Kích Nhảy Bắc trong cuộc chiến Việt Nam (bai III)

Hình bên: Toán Swan trong “Nhà An Toàn” tại Sài Gòn năm 1962. Từ trái, BK Nông Công Ðịnh, (toán trưởng tử trận), BK Lý A Nhì (hiện cư ngụ tại Dallas Fort Worth, Texas), BK Ðàm Văn Ngô (truyền tin), BK Ðàm Văn Tôn (tử trận), BK Nông Văn Hính (toán phó kiêm truyền tin, hiện cư ngụ tại Westminster, California). Còn thiếu một toán viên, không có trong hình là BK Mã Văn Ban (bị tử hình). (Hình: Biệt Kích Nhảy Bắc cung cấp)

Bài III: Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật, nơi phát sinh những chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc.

Nguyên Huy/Người Việt

Có thể nói những hoạt động của Sở Công Tác Nha Kỹ Thuật-Bộ Tổng Tham Mưu-Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa là nơi đã phát sinh ra những chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc. Ðó là một bộ phận gồm nhiều quân nhân, phần lớn là sĩ quan trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Công tác chính yếu của các sĩ quan này là đi tuyển mộ, lập thành những toán để được huấn luyện, thực hiện các chuyến hành quân thả người ra Bắc, theo dõi và điều hành công tác với những toán đã thả, lập chương trình thu hồi toán sau một thời gian được qui định (ngắn hay dài hạn).

Về việc tuyển mộ, các sĩ quan trưởng công tác thường xuyên liên lạc với các đơn vị trong quân đội, phòng hay ban quản trị để lục tìm hồ sơ các chiến sĩ, sĩ quan có đủ điều kiện gia nhập công tác. Những tiêu chuẩn thường là người miền Bắc, đặc biệt là các dân tộc thiểu số, những người theo Công Giáo, còn gia đình hay thân nhân ở lại ngoài Bắc sau năm 1954. Mặt khác, các sĩ quan trưởng công tác cũng nhờ các nhân sĩ trong cộng đồng sắc tộc, các nhà hoạt động chính trị, các vị linh mục giới thiệu cho những ai có lòng với đất nước và dân tộc. Sau khi được giới thiệu rồi, thường các sĩ quan trưởng công tác phải mất một thời gian làm quen, dọ ý các đối tượng. Sau khi đã biết chắc đối tượng thỏa thuận cộng tác, các đối tượng sẽ được chuyển về một nơi để làm thủ tục gia nhập.

Về việc huấn luyện, sau khi hoàn tất thủ tục, đối tượng được chuyển về Trung Tâm Huấn Luyện Quyết Thắng ở Long Thành để được huấn luyện về nhiều môn (thường là 9 môn) trong đó có nhảy dù ngày và đêm, trèo cây, học sử dụng vũ khí (vũ khí từ các nước Tây Âu, tuyệt đối không có vũ khí do Hoa Kỳ sản xuất), học về mưu sinh, thoát hiểm, học về truyền tin và học về tâm lý chiến (cách thực hiện truyền đơn thạch bản, cách thả truyền đơn bằng súng phóng...). Sau một thời gian được huấn luyện, các chiến sĩ biệt kích được chuyển vào Khu Cấm ở Long Thành chờ ngày xuất phát. Kể từ giờ phút này, người chiến sĩ Biệt Kích Nhảy Bắc không còn được có một liên lạc nào với bên ngoài. Chỉ một người duy nhất được tiếp xúc là sĩ quan trưởng công tác.

Từ lúc được tiếp xúc đến khi đi công tác, người lính Biệt Kích Nhảy Bắc thường phải qua một thời gian tương đối là một năm. Có toán kéo dài đến hai năm hay hơn và có thể sau cùng hủy bỏ, giải tán luôn, tùy theo tình hình và tin tức tình báo, an ninh. Cho đến thời gian vào Khu Cấm, những người lính Biệt Kích Nhảy Bắc luôn luôn tràn đầy nhuệ khí chiến đấu, công tác. Lý tưởng của tuổi trẻ lúc nào cũng rõ ràng trong tâm trí. Nhiều người cho biết rất nôn nóng được thả về quê hương bản quán, gặp lại người thân, bà con chòm xóm đã xa cách nhau 2, 3 năm trời kể từ khi di cư.

Họ mong muốn tạo được một phong trào nổi dậy chống độc tài Cộng Sản, mang lại cho bà con thân thuộc của họ cuộc sống ấm no như ở trong Nam. Họ vốn là những thành phần trẻ trong quân ngũ, nhiều người còn chưa rời khỏi ngưỡng cửa gia đình. Những phong trào chống Cộng mạnh mẽ được phát động trong dân chúng dưới thời chính phủ Ngô Ðình Diệm đã xây đắp cho họ lý tưởng, cho họ thấy được và hiểu được sự độc tài khát máu của chế độ Cộng Sản. Họ đã có được sự căm thù và họ cũng có được vị lãnh tụ anh minh là Tổng Thống Ngô Ðình Diệm kiên quyết chống độc tài Cộng Sản. Nhiều người đã cương quyết ra đi chỉ vì lãnh tụ này. Nên khi cuộc chính biến ngày 1 Tháng Mười Một, 1963, nổ ra, chính phủ Ngô Ðình Diệm bị lật đổ, Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị thảm sát thì một số lớn các toán đã từ chối không lên đường ra Bắc nữa vì, theo họ: “Chúng tôi ra Bắc chiến đấu vì tổng thống, nay tổng thống không còn, thì chúng tôi không đi nữa”. Ðó là các toán của trưởng công tác, Ðại Úy Michel vào đầu năm 1964.

Ðể tạm thời giải quyết vấn đề gần như “lãng công” trên, Sở Công Tác đưa một sĩ quan trẻ ngành tâm lý chiến mới ra trường xuống trung tâm Long Thành tìm cách làm yên lòng những người chống đối. Quả là một công việc ngoài sức của một chuẩn úy mới ra trường trong ngành tâm lý chiến. Nhưng may mắn làm sao, sau một buổi nói chuyện trong Khu Cấm, người sĩ quan trẻ tuổi này đã tạm thuyết phục được số anh em biệt kích chống đối.

Người sĩ quan này đã lý luận rằng: “Chúng ta chiến đấu cho đất nước Việt nam, cho dân tộc miền Bắc thoát khỏi gông cùm Cộng Sản chứ không phải chiến đấu vì một người, một chính phủ nào. Những chế độ chính trị, những chính phủ ví như những bộ áo khoác ngoài cho thân thể. Thân thể là quốc gia, là dân tộc. Thể chế chính trị, các chính phủ chỉ như những bộ áo quần khoác ngoài thân thể. Nên chính phủ của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm bị lật đổ nay thay bằng một chính phủ khác để cho được hợp lòng dân hơn cũng ví như chúng ta thay bộ quần áo mát khi Mùa Ðông đã hết, thì mục đích chiến đấu của chúng ta là quốc gia, là dân tộc vẫn còn đó có thay đổi gì đâu.”

Lý luận đó đã khiến nhiều anh em biệt kích suy nghĩ lại và sau cùng đã nhận lên đường.

Do từ nhu cầu của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ mà Bộ Trưởng Mc Namara quan niệm rằng: “Phải có một chiến dịch lớn hơn bằng cách tung thật nhiều toán biệt kích ra Bắc” nên công việc tổ chức Biệt Kích Nhảy Bắc được hai phía Việt-Mỹ khai triển mạnh. Trong khi đó, tác giả Richard H. Schultz, trong cuốn “Secret War Against Ha Noi,” cho biết rằng Trung Tá Ed Partain, chỉ huy chiến dịch OP 34, “chưa được chuẩn bị sẵn sàng để chỉ huy công tác này” mặc dù ông ta là một sĩ quan ưu tú, tốt nghiệp từ quân trường nổi tiếng Westpoint của Hoa Kỳ. Vẫn theo Schultz trong cuốn sách trên thì cả những sĩ quan sau đó là Trung Tá Reginald Woolard và Robert Mc Lane cũng đều “không có chút kinh nghiệm gì về hoạt động này”. Còn về phía Việt Nam, khi người Mỹ muốn “xê ra để tao chống Cộng”, người Mỹ đã nắm hầu bao thì phía Việt Nam dù có kế hoạch hay ý kiến thay đổi gì cho phù hợp với tình hình thực tế miền Bắc trong nanh vuốt Cộng Sản, cũng khó lòng mà thực hiện được.

(Còn tiếp)

Ngày mai, Bài IV: Những hoạt động của Biệt Kích Nhảy Bắc được ghi nhận qua một số tài liệu đã được bạch hóa.

Friday, July 3, 2009

Trung Ta Nguyen tuan Minh , nguyen CDT.CD3XK.SLL.NKT da tu tran cach day khoang 02 thang tai tieu bang Missouri


Tran trong kinh goi quy Nien truong va quy chien huu,
Trong chuyen di mien Bac Cali vua qua toi co dip den tham nhi vi Nien truong ma toi da co thoi gian tung su thi duoc biet tin Nien Truong : Trung Ta Nguyen tuan Minh , nguyen CDT.CD3XK.SLL.NKT da tu tran cach day khoang 02 thang tai tieu bang Missouri.
Trong niem thuong tiec va dau buon cua ban than voi mot vi Nien truong ma ban than hang kinh men va tran trong,toi xin KINH CHUYEN THONG TIN nay den quy vi , quy chien huu .Hy vong quy vi co nhung nhung thong tin chi tiet hon ve viec ra di cua NTruong Nguyen tuan minh xin vui long bo sung them.

Tran trong kinh chao va xin cam on quy Nien truong,quy chien huu.

NTDieu.

P/S : Thong tin ve viec ra di cua N/Truong NTMinh do N/Truong Ngo van Quang va co em ruot cua N/Truong Quang hien o Missouri cho biet.

Monday, June 29, 2009

Strategic Technical Direstorate / Nha Kỹ Thuật


This is a draft article, under development and not meant to be cited but you can help to improve it. These unapproved articles are subject to a disclaimer.

Contents
1 Observation Unit/Group
2 Northern Service
3 Liaison and Technical Services
4 MACV-SOG counterparts
4.1 EARTH ANGEL
4.2 PIKE HILL and CEDAR WALK
5 Vietnamization
5.1 Lam Son 719
5.2 STD enlargement


The Nha Ky Thuat (Vietnamese) or Strategic Technical Directorate (STD) was the covert action and special reconnaissance organization of the Republic of Vietnam. It paralleled the U.S. MACV-SOG covert operations group, [1] although U.S. questions about STD security limited the level of joint operations and planning. [2]After MACV-SOG left Vietnam under the Vietnamization program, various STD units continued to operate until the 1975 fall of South Vietnam.

Its lineage goes back to the Lien doi Quan Sat soi 1 (1st Observation Unit), formed in 1957 and, trained by the Central Intelligence Agency and United States Army Special Forces for special reconnaissance and unconventional warfare.

Observation Unit/Group
While it was under the Presidential Liaison Office, it was originally based in Nha Trang, and perhaps was comparable to the paramilitary side of the Central Intelligence Agency. It was commanded by a loyalist to President Ngo Dinh Diem, then-LTC Le Quang Tung. [3]

In various reorganizations, Tung's unit became the Lac Luong Dac Biet, or Vietnamese Special Forces, which variously served in special operations, as a Presidential guard and paramilitary unit, and counterpart to United States Army Special Forces in training irregulars, the Civilian Irregular Defense Group. Tung was shot after the 1963 overthrow of Diem, and the LLDB came under military control. Eventually, the LLDB was dissolved, but its personnel became the basis for the the STD.

Northern Service
Separate from Tung's unit, also by order from Diem, another unit was created in 1959, through a Presidential Order from President Diem, set up and commanded Northern Service, also called Bureau 45B (So Bac, Phong 45B). This was a Vietnamese-CIA operation separate from MACV-SOG. [4]

Liaison and Technical Services
While part of the LLDB proper was refocused, after the 1963 coup, into being a counterpart organization for the U.S. Army Special Forces training forces for Civilian Irregular Defense Group camps, part of its personnel went to a different military organization, the Liaison Service. This Service, created earlier, was composed of selected ARVN regulars, commanded by a colonel, and had three operatiomal units. In 1962, since its name had been compromised, the So Khai Thac Dia Hinh or Studies and Exploitation Service.

An additional unit, the So Ky Thuat or Technical Service was created, for agent operations into North Vietnam, missions that would run longer than those proposed for the Liaison Service. The level of effectiveness is not known; MACV-SOG had all its long-term agent programs in the north neutralized by security there.

MACV-SOG counterparts
While the degree of actual joint operation between the STD and MACV-SOG is not fully known, an organization called the Liaison Service corresponded to the Ground Studies Branch, with three colocated operational bases were:

Task Force 1 (Da Nang), matched to MACV-SOG Command and Control North (CCN).
Task Force 2 (Kontum), paired with Command and Control Central and operating in the triangle among Cambodia, Laos, and South Vietnam.
Task Force 3 (Ban Me Thuot), working with Command and Control South against southern VC strongholds and operations into Cambodia.
Each Task Force had a a Headquarters and Security Company, a Reconnaissance Company of ten teams, and two Mobile Launch Sites with reaction forces.

EARTH ANGEL
Communist soldiers who voluntarily came to the southern side were called "ralliers", or Hoi Chanh (Vietnamese for "open arms").[5] Some were sent back into the Ho Chi Minh trail area as part of a program, run jointly by MACV-SOG, the CIA, and Vietnamese So Cong Tac (Special Mission Service) Earth Angel.[6] Friedman quotes Major “Wick” Zimmer, the MACV-SOG commander of the Earth Angel personnel:
The Earth Angel agent was a product of northern society. They would hold self-criticism sessions at night, just like they had done in the North Vietnamese Army. They never balked at a mission, never gave any disciplinary problems. They were extremely motivated, almost without parallel.
PIKE HILL and CEDAR WALK
PIKE HILL operations were conceptually similar to EARTH ANGEL, but used South Vietnamese citizens of Cambodian heritage, rather than ralliers, for intelligence collection. CEDAR WALK used similar personnel to carry out limited combat operations. [7]

Vietnamization
With the withdrawal of U.S. Army Special Forces under the Vietnamization policy, CIDG and LLDB functions were at an end. Parts of the LLDB became a new 81st Ranger Group, as well as the Studies and Exploration Service/Liaison Service.

At the same time 81 Airborne Ranger Battalion was expanded into 81 Airborne Ranger Group consisting of one Headquarters Company, one Recon Company and seven Exploitation Companies. The Group was put under the direct control of the JGS as a general reserve force.

Lam Son 719
South Vietnamese special operators had conducted reconnaissance before the ill-fated Operation LAM SON 719, an independent ARVN operation into Cambodia.

STD enlargement
As American forces left, the STD was enlarged and put under Col. Doan Van Nu, an ARVN paratrooper, and former military attache to Taiwan. The STD now reported directly to the President and to the Chief of the Joint General Staff.

It also was responsible for continuing psychological operations with the radio stations, 'Vietnam Motherland', 'Voice of Liberty', and 'Patriotic Front of the Sacred Sword' clandestine radio stations.

Group 68 ran airborne trained rallier and agent units, including Earth Angels (NVA ralliers) and Pike Hill teams (Cambodian disguised as Khmer Communists). Since Vietnamization did not block U.S. air suport, Pike Hill units could call in B-52 strikes, with 48 sorties in one day in November 1972.

Tuesday, June 23, 2009

VNCH và Đài Loan Trong Chiến-tranh Ngoại Lệ.


Một trong những công-tác bí-mật của SOG bao gồm những hoạt-động chung với Trung-hoa quốc-gia. Sự phối-hợp này nằm trong ước mơ của Tưởng-giới-Thạch là lấy lại lục-địa Trung-hoa bị mất vào tay Mao-trạch-Ðông năm 1949 và trở thành Cộng-hoà nhân-dân Trung-hoa. Ngay từ lúc khởi đầu, người Mỹ đã làm Tưởng thống-chế tràn chề hi-vọng. Chẳng hạn Hoa-thịnh-Ðốn giúp đỡ trang-bị cho các du-kích quân của các đảng phái quốc-gia ẩn-náu trong vùng rừng núi Miến-điện chống lại chính-quyền Hoa-lục. Bắt đầu từ năm 1951 và tới hai năm sau đó, mặt trận này đã mở được khoảng 7 trận đột-kích lẻ tẻ vào mạn sườn biên-giới phía Nam của Trung-cộng và tất cả đều không thành-công.

Sau khi chiến-dịch Miến-điện bị thất-bại, hậu bán thập-niên 50, Tưởng củng-cố lại lực-lượng quân-đội. Âm thầm, CIA yểm-trợ những chuyến xâm nhập của các toán biệt-hải thuộc Trung-hoa dân-quốc. Cho tới năm 1957 cường lực này được gia tăng bằng những cuộc đột-kích chớp nhoáng vào lục-địa bởi những toán biệt-kích. Một cuộc tấn-công dữ-dộI nhất vào ngày 2/10 gồm 28 BKQ đột-kích cửa sông Pehling ; họ rút lui sau khi bị chống trả bằng pháo-binh và đại-liên của lực-lượng dân quân phòng-vệ.

Những cuộc đột-kích dọc miền duyên-hải lục-địa chỉ làm Trung-cộng hơi bực bội. Tưởng-giới-

Thạch quyết-định thọc sâu vào nội-địa. Những cuộc hành-quân này phải nghĩ tới việc thả dù những toán biệt-kích. Thi-hành dự-án này, vào tháng 9/1957 Tưởng thân-hành trình-bầy cho đại-sứ Hoa-kỳ ở Ðài-bắc kế-hoạch thành-lập một đơn-vị đặc-biệt xâm nhập vào lục-địa và khích-động dân chúng nổi lên lật đổ chế-độ CS. Phấn-khởi với đề-nghị này, tháng Hai sau đó Hoa-thịnh-Ðốn ra lịnh cho nhóm cố-vấn quân-sự tại Ðài-loan giúp đỡ Tưởng thành-lập một binh-đội lực-lượng đặc-biệt với quân số là 3.000 người.

Không thoả-mãn với chỉ một đội binh 3.000, Tưởng lập thêm 2 binh-đội LLÐB trong liền 2 năm sau đó. Và ông bắt đàu thả họ vào sâu trong lục-địa. Trong một điệp-vụ cuối tháng Tư năm 1960, CIA thả một toán năm người vào tỉnh Anhui. Theo như dự-tính dựa theo tin tình-báo của Ðài-loan toán sẽ đựợc tiếp đón bởi khoảng 500 người dân lục-địa có cảm-tình với Tưởng. Thực-tế, toán nhẩy ngay xuống một công-trường xây cất đập nước và bị rượt đuổi ngay tức-khắc. Liên-lạc vô-tuyến với Ðài-loan, họ xin tiếp-tế. Nhưng lúc này tình-hình chính-trị toàn cầu đang rất phức-tạp. Một chiếc U2 của CIA vừa mới bị bắn rơi bên liên-bang Sôviết, làm cho chính-quyền Eisenhower

tạm thời chấm dứt những phi-vụ do-thám trên không-phận các nước thuộc khối CS. Tuyệt-vọng, viên trưởng toán trách than, rồi nổi giận trên tầng số vô-tuyến với viên chức CIA liên-hệ trước khi sa vào tay quân địch.

Những thất-bại này không làm cho Tưởng quan-ngại. Vào mùa hè năm 1961 ông có 4 binh-độI LLÐB với tổng số 12.000 biệt-kích nhẩy dù, một tập-hợp binh chủng đặc-biệt lớn nhất trong các quốc-gia Á-châu. Thêm vào đó, ông lập nên : Phong-trào Quốc-gia chống Cộng cứu quốc với 5.500 tay súng gồm toàn những người di-cư từ lục-địa, đội quân này sẽ dùng làm lực-lượng chính để tấn-công và lật đổ chính-quyền CS Hoa-lục.

Cho dù được tăng số lượng, trận chiến bí-mật của Trung-hoa dân-quốc gặt hái kết-quả rất khiêm-nhường qua những năm đầu của thập-niên 1960. Thường thường, các toán bị bắt ngay sau khi nhẩy dù xuống tới đất. Nhiều lần hệ-thống phòng-không năng-động của Trung-cộng đã bắn rớt máy bay xâm nhập trước khi đến được địa-điểm thả toán : ít nhất 5 máy bay RB-69, loại máy bay nòng cốt dùng để thả toán bị bắn rơi trong năm 1964.

Không-phận Trung-cộng càng ngày càng trở nên nguy-hiểm. Biệt-kích quân của Tưởng quay qua miền biển. Cuộc hành-quân lớn nhất của họ vào mùa hè 1963 khi 26 BKQ của Phong-trào Quốc-gia chống Cộng cứu quốc xử-dụng 2 tầu đổ bộ tiến vào hải-phận Bắc-Việt. Ngáy 23/7 hai tầu này vào tới Bạch-long-vĩ, một đảo nhỏ không dân cư nằm giữa Hải-phòng và đảo Hải-nam. Năm ngày sau, họ đi thẳng lên hướng Bắc, dừng lại ở ven biển Quảng-ninh, từ đó các BKQ chuyển lên các ghe đổ bộ và tiến vào bờ. Họ dự-định xâm nhập dọc theo biên-giới Bắc Việt-nam

và Trung-cộng rồi đi sâu vào nội-địa và thiết-lập một nhóm du-kích chống cộng.

Các BKQ chỉ vừa đặt chân lên bãi cát là bị lực-lượng biên-phòng của Bắc-Việt bao vây. Trong cuộc chạm súng, 7 tử trận, 2 tự sát và 17 BKQ bị bắt làm tù-binh.

Ðài-loan không biết là 2 tuần trước đó, Nam Việt-nam đã cho xâm nhập toán biệt-hải tên Dragon cũng vào nơi đó của tỉnh Quảng-ninh, do đó nơi này đang bị canh chừng nghiêm-ngặt và toán BKQ của Trung-hoa quốc-gia đã rơi ngay vào mũi súng chờ sẵn của địch-quân.

Cuộc hành-quân này có vẻ như là thiếu sự hợp-tác chặt chẽ giữa Ðài-bắc và Sàigòn, nhưng thật ra không phải vậy. Thật sự, liên-lạc quân-sự giữa hai quốc-gia đã có từ tháng 5/1960, khi Tưởng gởi 3 sĩ-quan liên-lạc tới Sàigòn để liên-hệ công-tác xâm nhập. Ba tháng sau đó, một toán người nhái của Nam Việt-nam đã qua Ðài-loan để được xuyên-huấn. Tháng Hai sau đó, Ngô-đình-Cẩn người em đầy quyền-lực của TT Diệm thăm viếng Trung-hoa quốc-gia và đề-nghị Ðài-loan gởi huấn-luyện-viên người nhái qua Nam Việt-nam. Trong khi chuyện gởi huấn-luyện-viên qua Nam Việt-nam không bao giờ trở thành hiện-thực, thì cuối năm đó một toán LLÐB Ðài-loan được gởi sang hoạt-động ở vùng châu-thổ sông Cửu-long.

Khi hoạt-động ở vùng châu-thổ, toán biệt-kích Ðài-loan làm việc với cha Nguyễn-lạc-Hoá, một linh-mục Thiên-chúa giáo chống cộng. Cha Hoá đã từng là trung-tá trong quân-đội Trung-hoa của Tưởng khi còn trong lục-địa. Sau khi Tưởng chạy ra Ðài-loan, cha Hoá chạy xuống phương Nam, miền Ðông-dương thuộc Pháp. Ông tìm được nơi trú-ẩn an-toàn dưới chế-độ nhân-ái, trọng Thiên-chúa giáo của giới lãnh-đạo ở Nam Việt-nam. Xuống tỉnh An-Xuyên, miền cực Nam của vùng châu-thổ sông Cửu-long, cha Hoá đoàn-ngũ hoá con chiên thành lực-lượng tự-vệ. Với sự trợ giúp của toán LLÐB Ðài-loan, chẳng bao lâu họ quét sạch du-kích Việt-cộng ra khỏi địa-phương.

Trong khi cha Hoá đặt trọng-tâm vào An-Xuyên, ông vẫn luôn luôn cổ-võ cho vấn-đề xâm nhập, khuấy-rối miền Bắc Việt-nam. Cho tới lúc cuối ông vẫn duy-trì liên-hệ chặt chẽ với Ð/tá Tung và Ð/úy Linh của Sở liên-lạc phủ tổng-thống, ông giới-thiệu với họ những người có thể huấn-luyện để trở thành điệp-viên, tuyển-lựa trong đám con chiên thuộc cộng-đồng công-giáo di-cư của ông. Qua tay cha Hoá, CIA thâu nhận một viên Ð/úy đứng tuổi của quân-lực Nam Việt-nam tên là Lương-Hàng, gốc người Nùng làm sĩ-quan điệp-vụ.

Chính-quyền ông Diệm đổ vaò tháng 11/1963. Cha Hoá cũng bị lu mờ từ đó. Liên-lạc giữa Sàigòn và Ðài-bắc vẫn tiến-triển. Máy bay C-123 với phi-hành đoàn Ðài-loan đã thả hàng loạt toán xâm nhập vào miền Bắc Việt-nam. Từ những hợp-tác này, Tướng Nguyễn-văn-Thiệu của quân-lực Nam Việt-nam qua Ðài-loan tháng 6/1964 để bàn-bạc thêm về hợp-tác quân-sự. Vài tháng sau, khoảng tháng 10 MACV và Nam Việt-nam đồng-ý cho thiết-lập một phái-bộ Trung-hoa dân-quốc gồm 15 người, cố vấn cho Nam Việt-nam về chiến-tranh tâm-lý và chính-trị.

Sàigòn cần nhiều sự giúp đỡ hơn là chỉ một nhóm nhỏ cố-vấn. Tháng 8/1965, Thủ-tướng Nguyễn-cao-Kỳ đi Ðài-loan và trở về với nhiều cam-kết được giúp đỡ về kỹ-thuật và vật-liệu. Thêm vào đó Trung-hoa dân-quốc còn gián-tiếp đề-nghị là họ sẵn-sàng đáp-ứng cho thêm nếu cần, các trợ giúp khác. Lời hứa-hẹn lửng-lơ này trở thành rõ ràng khi cuối tháng đó Tr/tá Ngô-thế-Linh lúc đó là chỉ-huy trưởng của nhóm biệt-hải qua Ðài-loan bàn về vấn-đề gởi điệp-viên từ miền Nam xâm nhập vào Bắc-Việt và Tầu-cộng. Miền Nam cung-cấp điệp-viên và gởi sang huấn-luyện tại Ðài-loan. Ðài-bắc cũng hứa sẽ cung-cấp giấy tờ giả-mạo và tầu siêu-tốc để gởi điệp-viên xâm nhập duyên-hải miền Bắc. Một số khác sẽ xâm nhập từ Cao-miên và Lào bằng phương-tiện máy bay thương-mại.

Ngay khi những lời hứa-hẹn này được tuyên-bố, kế-hoạch dự-định đã được phái quốc-gia cực-đoan ở Ðài-loan ủng-hộ. Ðến tháng 9, không chờ ý-kiến từ Nam Việt-nam, 4 điệp-viên thẩm-thấu vào Hoa-lục bằng cách du-hành hợp-pháp qua ngã Nam-vang và Vạn-tượng. Cho mãi đến đầu năm sau đó, sự hợp-tác bí-mật với Ðài-loan mới được khơi lại và lần này, SOG đóng vai chính-yếu.

SOG ve-vãn với Ðài-loan là một điều dễ hiểu, vì mối giao-hảo giữa Bắc Việt-nam và Tầu-cộng lúc đó. Trong thập-niên 60, hai quốc-gia này bài-xích lẫn nhau một cách tệ-hại, dẫn đến chỉ trích lẫn nhau một cách hạ-cấp. Chót cùng của màn võ mồm này là Việt-cộng nhìn Trung-cộng với con mắt nghi-ngờ. Hiềm-khích càng tăng lên khi liên-bang Sôviết đột-ngột tăng viện-trợ quân-sự cho Hà-nộI trong năm 1965 làm cho Bắc-kinh càng lên ruột hơn. Trong khi Bắc-kinh ngoài mặt cố gắng giữ sự đoàn-kết với Bắc Việt-nam, nhiều nhà quan-sát ngoại-giao đoan chắc rằng, bề trong mâu-thuẫn giữa hai quốc-gia rất là căng-thẳng.

Tình-trạng căng-thẳng này giúp cho Hoa-thịnh-Ðốn và Ðài-bắc cơ-hội thuận-tiện để thiết-lập một cuộc chiến-tranh ngoại lệ. Tháng 5/1965 bộ-trưởng quốc-phòng Ðài-loan, Tưởng-kinh-Quốc con của Tưởng-thống-chế đề-nghị thả biệt-kích xuống Tây-nam Trung-hoa lục-địa để phá đường tiếp-liệu của Hà-nội, 4 tháng sau Hoa-thịnh-Ðốn rỉ tai Ðài-bắc cho thả dù điệp-viên Trung-hoa quốc-gia xuống gần biên-giới Bắc Việt-nam để nghe lén mạng lưới truyền-tin của Bắc-kinh. Quả là một hành-động cương-quyết, chính-sách Hoa-kỳ đã thay đổi. Từ năm 1956, Hoa-thịnh-Ðốn đã nhiều lần tự-chế, né tránh những cuộc chạm trán với lục-địa nhưng 9 năm sau họ đã khởi-động, khuyến-khích đám quốc-gia cực-đoan khuấy-rối Hoa-lục. Tưởng-kinh-Quốc không thể bỏ mất cơ-hội may mắn này. Mỗi bên có nguyên-do riêng cho hành-động này: Hoa-kỳ cần tin-tức tình-báo, trong khi Ðài-loan thấy có cơ-hội để gởi điệp-viên vào tỉnh Vân-nam. Nhiệt-tình của Ðài-bắc làm cho Hoa-thịnh-Ðốn nghi-ngại, e rằng Ðài-bắc quá hăng-hái và chuyển căn-bản từ những toán thám-báo thành một cuộc chiến thực-thụ. Ðể tránh chuyện này xẩy ra, cho SOG dính-líu vào để cầm chân Ðài-bắc.

Ðược chuyển từ kế-hoạch khởi đầu là các toán người Trung-hoa quốc-gia, nay hợp-tác với SOG, kế-hoạch hành-quân thay đổi. Ðáng lẽ gởi điệp-viên Ðài-loan vào thẳng Vân-nam, SOG đề-nghị thả những toán nằm dài hạn xuống tỉnh Lào-cai, nằm dọc theo biên-giới Việt-nam và Trung-cộng. Những toán này sẽ được xử-dụng để quan-sát lưu-lượng giao-thông: đường bộ, đường hoả-xa và tầu bè di-chuyển xuôi hướng Ðông-nam từ Trung-cộng xuống Hà-nội.

Không có gì đáng ngạc-nhiên khi đề-nghị của SOG về mục-tiêu Lào-cai làm cho Trung-hoa quốc-gia rất phấn-khởi. Trong khi bàn soạn, Ðài-bắc đồng-ý chuyển bãi đáp ra phía Ðông-bắc thuộc tỉnh Hà-giang, khu-vực đồi núi và thưa dân. Hà-giang không có nhiều mục-tiêu chiến-lược như Lào-cai, nhưng Hà-giang có một biên-giới dài và hoang-vu ăn sâu vào đất Trung-cộng. Theo như chương-trình sắp xếp lại; một toán Việt-nam sẽ nhẩy xuống Hà-giang và làm an-ninh bãi đáp trước cả tháng, sau đó một toán Trung-hoa quốc-gia sẽ nhẩy xuống hiệp-đoàn với họ. Và rồi họ sẽ cùng tiến về phương Bắc vào lãnh-thổ Trung-cộng.

Kế-hoạch quả là quá lạc-quan. Thành-quả các toán dài hạn của SOG thật là lèm nhèm, của Ðài-loan lại còn tệ hơn. Bỏ ngoài tai những thất-bại thảm-thương trước đó, kế-hoạch được thi-hành. Ðài-bắc rất nóng nẩy chờ thả biệt-kích vào lục-địa, nhất là lại được ô dù của Mỹ che chở.

Trong khi SOG chưa có thể chứng-minh được lợi-ích thực-tiễn của cuộc hành-quân, bộ-trưởng quốc-phòng được thông-báo về kế-hoạch vào tháng 10/1966 và CINPAC chấp-thuận tháng 5 sau đó.

Tại Long-thành, phần người Việt một nửa toán nhẩy vào Hà-giang bắt đầu thành-lập tháng 8/1966. Sĩ-quan điệp-vụ là thiếu-tá Lương-Hàng, viên sĩ-quan Nùng mà cha Hoá tiến-cử trước đó,

được gọI bí-danh là Mathieu. Hàng là người đáp-ứng đủ điều-kiện cho điệp-vụ hợp-tác với Ðài-bắc

vì ông có dòng máu Trung-hoa và nói được tiếng Tầu.

Dưới quyền điều-khiển của Mathieu, một lớp điệp-viên 30 người, sàng-xẩy được 12 BKQ, tiến-hành tập-luyện tại Long-thành. Ðặt tên là toán Red-Dragon, tất cả là người Việt miền Bắc. Ðược chọn làm toán trưởng là Nguyễn-thái-Kiên (*) một quân nhân kinh-nghiệm, đã trải qua nhiều cuộc giao-chiến với Việt-minh trong chiến-dịch biên-giới, dọc theo lân-quốc Trung-hoa và trận chiến Ðiện-biên-phủ. Vào Nam sau 1954, ông gia-nhập lực-lượng nhẩy dù của chính-phủ quốc-gia và thuộc nhóm thiếu-úy trẻ tình-nguyện qua SOG cuối năm 1965,và là toán trưởng người Việt trong các cuộc hành-quân Shinning-Brass hoạt-động vượt-biên qua Lào.

Từ đàu năm 1967, toán Red-Dragon được huấn-luyện tại Long-thành. Các toán viên được thực-tập phá-hoại và xử-dụng tất cả các loại vũ-khí, kể cả loại hoả-tiễn 3,5 inch. Họ cũng được học gấp rút tiếng Tầu.

Ngày 24/2, toán Red-Dragon được hội-nhập với nửa phần kia là các quân-nhân LLÐB của Trung-hoa quốc-gia. Ðể khỏi bị lộ tông-tích, nhóm 13 người Ðài-loan này được đặt tên bằng tiếng Việt.

Trong 6 tháng, toán Red-Dragon hỗn-hợp này sát cánh thực-tập với nhau tại Long-thành. Ngày mãn khoá, vào tháng Tám, họ được thả xuống một nơi gần Ðà-lạt, hành-quân thực-thụ để thực-tế chiến-trường. Chạm địch, hạ-sát 2 du-kích, bắt sống 2 tù-binh và tịch-thu 5 súng trường.

Vào giữa tháng Chín, một nửa toán Red-Dragon của ngườI Việt chỉ còn lại có tám người, được trải qua những trắc-nghiệm cuối cùng. Toán trưởng Kiên được vinh thăng Ð/úy, viên toán phó Phạm-xuân-Kỳ lên một cấp là Th/sĩ. Mathieu cùng Ð/úy Frederic Caristo của SOG trao đổi với họ những lời dặn dò cuối cùng. Kiên giao hẹn sẽ liên-lạc với Sở trong vòng 3 ngày sau khi tới mục-tiêu, nếu không kể như đã rơi vào tay địch. Nhiệm-vụ của họ là chờ cho đến khi phần nửa toán còn lại của Trung-hoa quốc-gia nhẩy xuống, hội-nhập với họ và tiến vào Trung-hoa lục-địa.

Ngày 21/9, cả 8 BKQ mặc đồ bảo-hộ nhẩy dù và leo lên một chiếc MC-130. Hầu hết đồ tiếp-liệu của họ để trong một kiện hàng lớn, trong có máy phát tín-hiệu và mỗi điệp-viên đều có trang-bị máy dò tìm, để khi xuống đất trong đêm tối, họ tìm lại tiếp-liệu và hội lại với nhau không mấy khó khăn.

Cất cánh vào ban đêm, máy bay ghé qua Nha-trang, Từ đó bay vòng ra vịnh Bắc-Việt theo hình vòng cung, ngược chiều kim đồng hồ. Với những phi-cụ tối-tân, phi-hành đoàn cho phi-cơ bay thật thấp về hướng Tây, dọc theo dẫy núi non hiểm-trở giữa Bắc Việt-nam và Trung-cộng.

Ðúng 2 giờ sáng trên không-phận tỉnh Hà-giang, bửng sau máy bay hạ xuống. Toán được chia làm hai như đã hoạch-định trước; đồ tiếp-liệu và toán trưởng sẽ nhẩy xuống trước, tiếp theo đó là chuyên-viên truyền-tin và các toán viên. Có một điều không dự-định trước là gần hết nhân-viên của toán Red-Dragon bị say máy bay. Không biết là tại vì căng thẳng thần-kinh hoặc vì chuyến bay bị nhồi sóc quá độ, các BKQ trừ một ngưòi Việt và hai chuyên-viên thả dù người Mỹ, số còn lại thay phiên nhau nôn mửa trên sàn tầu.

Khi ngọn đèn xanh bật lên, toán Red-Dragon đều đã rệu-rã. Ðể làm gương, Kiên và kiện hàng biến mất trong không-gian. Phàn-nàn chuyến bay làm cho quá mệt mỏi, chuyên-viên phá-hoại Trịnh-quốc-Anh khuỵu xuống và không chịu nhẩy. Thấy vậy, toán viên thứ hai cũng từ-chối và rồi toán viên thứ ba. Một phút đã trôi qua và chuyên-viên thả dù phải khuyến-khích, xô đẩy toán Red-Dragon ra cửa sau phi-cơ.Trong khi đó Kiên và kiện hàng tiếp-liệu đã rơi xuống một khoảng cách khá xa. Cuối cùng 6 toán viên khác cũng nhẩy. Không có cách nào làm cho Anh rời máy bay được; anh ta ở lại trên chiếc MC-130E bay trở lại Nam Việt-nam ( Trịnh-quốc-Anh sau này bị bắn chết bởi một toán viên khác, khi gây-gỗ với nhau về việc chia phiên đi lấy nước, trong một cuộc hành-quân cũng ở Bắc Việt-nam ).

Rời khỏi máy bay cuối cùng là Nguyễn-hữu-Tấn, một người công-giáo quê ở Thái-bình, nhân-viên cứu thương của toán, Tấn nhìn thấy những cánh dù của đồng-đội nở hoa dưới ánh trăng.Anh cũng nghe tiếng xe tải và ánh đèn từ một trạm biên-phòng, anh biết chắc rằng họ sẽ bị lộ khi tới được mặt đất.

Ðáp xuống một bụi tre mọc giữa lưng đồi, Tấn tháo gỡ đai dù. Các BKQ được lịnh thâu-hồi dù và phá-hủy với một dung-dịch acid đặc-biệt để phi-tang. Nhưng dù của Tấn mắc cao trên ngọn tre, anh bỏ mặc đó và di-chuyển khỏi bãi đáp. Bởi vì có sự chậm trễ do dằng co khi nẫy trên máy bay, giờ đây anh đáp xuống hướng Tây-nam và cách mục-tiêu là biên-giới Tầu gần 50 cây số. Mặc dầu đây là khu thưa dân cư, cũng có một con lộ đi qua và được canh gác bằng một lực-lượng phòng-vệ đông đảo của Bắc-Việt và một pháo-đội phòng-không của Trung-cộng.

Tính thầm rằng kiện đồ tiếp-liệu phải rơi xuống thung-lũng phía dưới, Tấn bật máy dò tín-hiệu, vì dùng dằng khi nhẩy nên khoảng cách hai nơi đã quá xa, quá tầm hoạt-động của máy. Với tiểu-liên Thụy-điển trên tay ( Sweedish-K, bắn đạn 9mm ), Tấn mò xuống chân đồi vì nghĩ rằng đồng-đội đã đáp xuống đó. Chỉ trong ngày, anh gặp được chuyên-viên truyền-tin Lê-trung-Tín. Máy rà tín-hiệu của Tín cũng không hoạt-động, họ không có cách nào để kiếm đồ tiếp-liệu gồm đồ ăn, quần áo và máy đánh morse GRC-109 để liên-lạc với Sàgòn qua trung-gian đài tiếp-vận BUGS ở Phi-luật-Tân. Máy phát tuyến cầm tay HT-1 cũng không hoạt-động hữu-hiệu trên miền núi non làm họ cũng không thể liên-lạc được với các toán viên khác.

Ròng rã hai ngày, hai BKQ đi ruồng trong rừng để kiếm đồng-đội. Ðơn-độc và đói, cuối cùng họ quyết-định tìm đường qua Lào. Chỉ một ngày sau, các toán tuần-tiễu Bắc-Việt tìm ra họ, Tấn và Tín bị bắt một cách dễ dàng.

Ba toán viên khác của toán Red-Dragon cũng chỉ may mắn hơn một chút. Rơi xuống thung-lũng, họ gặp lại nhau ngày hôm sau; ở gần kiện hàng hơn, máy dò tìm của họ hoạt-động,mò theo đó họ tiếp-tục đi về phương Bắc. Họ đi gần một tuần mà cũng không tìm ra đồ tiếp-liệu. Tới lúc đó

Bắc Việt-nam đã huy-động lực-lượng càn quét khu-vực trung-du, chẳng bao lâu cả 3 BKQ bị bao vây và bắt giữ.

Vài ngày sau đó, hai người còn lại của toán Red-Dragon cũng bị bắt nốt. Bắc-Việt dùng nhân-viên truyền-tin bắt liên-lạc với BUGS. Trước khi ra đi, các BKQ đã hẹn là trong vòng 3 ngày sẽ gọi về. Giờ đây, sau gần 2 tuần họ mới liên-lạc, SOG không tin là họ được an-toàn. Mathieu lại tin rằng mọi chuyện đều xuông-sẻ và yêu-cầu tái tiếp-tế. Ngày 17/10 trong một phi-vụ oanh-tạc, một chiếc Phantom F-4C xé bầy bay tới Hà-giang và thả đồ tiếp-tế, ngụy trang trong vỏ bom napalm.

Không phải chỉ có SOG nghi-ngờ, Ðài-loan cũng e-dè và giữ các BKQ của họ ở lại Long-thành. Trước khi quyết-định gởi BKQ của họ ra Bắc, họ yêu-cầu gởi điệp-viên xuống Hà-giang để kiểm-chứng tình-trạng của toán Red-Dragon. Toán mới, Red-Dragon Alpha chỉ có hai nhân sự. Một trong 2 người đó là Trịnh-quốc-Anh, người đã từ-chối nhẩy vào mục-tiêu lần trước.

Không phải là một toán tiếp-ứng bình thường, Red-Dragon Alpha sẽ nhẩy vào, ở lại mục-tiêu 2 tuần-lễ để xác-định mức an-toàn của toán Red-Dragon, rồi sẽ được triệt-xuất bằng phương-cách Fulton- Skyhook system ( Vớt người bằng hệ-thống móc trang-bị trước mũi của C-130, và khi máy bay đã bình-phi, người được cứu lúc đó bay theo phía sau của máy bay sẽ được kéo vào trong phi-cơ theo lối cửa sau, phương-pháp này rất là nguy-hiểm, chỉ được xử-dụng khi đã vô-kế khả-thi).

Toán Red-Dragon Alpha được sắp-xếp để nhẩy vào mục-tiêu tháng giêng 1968. Tuy nhiên, sau những trao đổi truyền-tin, SOG đánh hơi được người của mình đã sa vào tay giặc nên bãi bỏ kế-hoạch dự-định và Ðài-bắc đã rút toán biệt-kích của họ về.



Lược-dịch Nguyễn-đức-Tuấn



Chú-thích: (*) ngườI dịch có hân-hạnh tiếp chuyện Ð/úy Nguyễn-thái-Kiên nhân dịp tham-dự buổI hội-ngộ thứ 25 của

LLÐB Hoa-kỳ tổ chức tại Plaza hotel, Las-Vegas cuối tháng 9/2001 và được gởi tặng quyển Spies & Commandos này. Cảm-động vì phong-thái cương-cường của người ngã ngựa, nỗI nhục-nhằn mà những người con thương yêu của Tổ-quốc phải gánh chịu : bao nhiêu năm lính, bấy nhiêu năm tù !!! Kẻ hèn này chỉ là một đàn em sinh sau đẻ muộn của anh Kiên, muốn góp ý với bạn đọc bốn phương có một cái nhìn thực-tiễn về hai chữ ANH-HÙNG.

Phút cuối cùng lao vào cõi chết làm gương cho kẻ khác. Ðã có bao nhiêu tướng-tá của ta làm được như vậy khi Tổ-quốc yêu-cầu !!! Mặc dù anh Kiên thất-bại, cũng như cả miền Namđã thất-bại vì rất nhiều nguyên do, nhưng: Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Nếu chúng ta bớt nỗi vị-kỷ, yêu nước nhiệt-tình hơn ( chứ đừng yêu nước bằng mồm, bằng máu xương của kẻ khác ) trưởng thành về chính-trị hơn ( đừng ăn cơm Quốc-gia mà thờ ma CS ) cấp lãnh-đạo, nhà trí-thức có liêm-sỉ, có trách-nhiệm hơn thì dầu ta có thua, vẫn có điều đáng để tự-hào. Những người như anh Kiên, mất hết tuổi thanh-xuân trong cuộc chiến, mòn mỏi trong ngục tù. Họ đáp lời sông núi và giờ đây ôm một trời uất-hận!!! Anh Kiên, các anh không lẻ loi, chúng tôi, con dân nước Việt luôn luôn ghi nhớ sự hy-sinh cao cả của các anh vá các đồng-độI đã gục ngã ngày nào!

Toán Red-Dragon
nguyên-tác : Spies & Commandos
Kenneth Conboy & Dale Andradé
(Thân tặng Kiên vớí lòng thương mến và cảm-phục)

Tiểu sử NKT cùng những hoạt-động của đơn-vị này trong cuộc chiến VN


Sở khai thác địa hình trực thuộc Phủ Tổng-thống do đ/tá Lê quang Tung làm chỉ huy trưởng, chịu trách-nhiệm nhiều công-tác tình-báo quốc-nội và quốc-ngoại quan-trọng dưới sự chỉ-đạo trực-tiếp của ông cố-vấn Ngô đình Nhu và Tổng thống Ngô đình Diệm. Trong các cơ-cấu tình-báo này có phòng 45 hay phòng E đặc-trách thu-thập tình-báo phía bắc vĩ-tuyến 17. Phòng E sau này được gọi là Sở Bắc. Yểm-trợ tài-chánh và kỹ-thuật là cơ-quan Combined Studies (vỏ bọc của CIA) thuộc toà đại sứ Hoa-kỳ tại Sàgòn

Ðầu năm 1963. Sở khai thác địa hình đổi thành Bộ tư-lịnh lực lượng đặc biệt gồm hai đơn-vị : Liên-đoàn 77 và Liên-đoàn 31, đ/tá Lê quang Tung là vị tư-lịnh đầu tiên, trong khi đó Sở Bắc vẫn do CIA yểm-trợ, đ/tá Tung bị thảm-sát trong chính biến 1/11/63. Sau đó BTL/LLÐB được dời ra Nha trang và Sở Bắc được cải danh thành (sở khai thác) SKT/BTTM và vẫn tiếp-tục duy-trì các công-tác đặc-biệt, tách rời khỏi LLÐB, vị chỉ-huy trưởng đầu tiên là đ/tá Trần văn Hổ. Sau này trong chiến dịch Switching back, CIA bàn giao Sở khai thác lại cho MACV-SOG.

Ngoài các toán tình-báo dài hạn xâm nhập miền Bắc bằng cách nhẩy dù hay đổ bộ bằng đường biển hoặc các công-tác biệt-hải tập-kích, đánh phá các mục-tiêu dọc theo duyên-hải Bắc-Việt. Sở khai thác còn tổ-chức các toán thám-sát ngắn hạn hoạt-động vùng biên-giới Lào Việt nằm phía Bắc vĩ-tuyến 17 đến vĩ-tuyến 20 được gọi là các toán STRATA gồm các toán dân tộc thiểu số, dân sự chiến đấu và các quân nhân của đoàn 11 và đoàn 68. Cũng trong thời-gian này SOG huấn-luyện các toán thám-sát cho hành quân Shining Brass tại căn-cứ Long-Thành.(Sở liên-lạc) SLL/BTTM được thành lập trong thời gian này, đảm nhận công-tác ngoại biên Việt, Miên, Lào, các toán này mang danh chung là Lôi-Hổ có nhiệm-vụ thám-sát, phá-hoại các mục-tiêu trọng yếu của địch, chỉ điểm mục-tiêu cho phi-cơ oanh-kích, bắt cóc quân địch đem về khai thác, giải thoát tù-binh, hoặc tiếp-cứu phi công khi lâm nạn. Vị chỉ-huy trưởng đầu tiên là đ/tá Hồ-Tiêu gốc từ Sư-đoàn dù. Sau đó SLL được tiếp-tục chỉ-huy bằng các chỉ-huy trưởng từ nhẩy dù qua. Các cuộc hành quân thám-sát biên-giới phát-triển mạnh mẽ vào các năm 1966 đến 1972, dưới quyền chỉ-huy sau đó của các đ/tá Liêu quang Nghĩa, đ/tá Nguyễn văn Minh và đ/tá Nguyễn minh Tiến.

Sở liên-lạc có bộ chỉ-huy ở Sàigòn và 3 chiến-đoàn :CÐ1(CCN) Ðà nẵng, CÐ2 (CCC) Kontum, CÐ3(CCS) Ban mê Thuột. Mỗi chiến-đoàn có nhiều toán, các toán mang tên các tiểu-bang Hoa-kỳ, trừ các toán ở CÐ3 mang tên các vật dụng như Cưa, Búa ( RT Saw, RT Hammer v.v..). Qua năm 1972 lần lượt đều được đổi qua tên Việt.

Các toán Lôi-Hổ được tổ-chức, huấn-luyện hành quân theo kỹ-thuật của LLÐB, sự khác biệt là các toán Lôi-Hổ hoạt-động ngoại biên, ngay trong lòng địch.

Năm 1966. Sở khai thác cải danh là Sở kỹ-thuật và sau đó được nâng lên thành Nha kỹ-thuật. Lúc bấy giờ NKT có những đơn-vị sau đây : Sở liên-lạc, Ðoàn 11và Ðoàn 68 (sở công tác sau này), Sở không yểm, Sở phòng vệ duyên-hải, Trung tâm huấn-luyện Quyết Thắng (Long thành), Sở tâm-lý chiến.

Sở công tác sau này được thành lập với 2 đoàn 11 vá 68. Sau khi LLÐB giải tán, các sĩ-quan cán bộ cùng toán viên được chuyển qua thành lập các đoàn 71, 72, và 75. Thời gian đầu bộ chỉ-huy đồn trú ở Nha trang sau dời ra Ðà nẵng. Ðoàn 11, 71, 72 đồn trú tại Ðà nẵng, Ðoàn 75 tại Kontum, Ðoàn 68 đóng ở Sàigòn gần bộ chỉ-huy của Nha.

Kể từ năm 1972 vì thiếu phương tiện yểm-trợ và CS đã công khai đem quân vào miền Nam, địa bàn hoạt động của NKT/BTTM được thu hẹp lại, các đoàn và chiến-đoàn công tác được tăng phái cho các Quân-đoàn và thực hiện những cuộc thám sát nội biên sau hậu-tuyến địch. Vị chỉ-huy trưởng đầu tiên của Sở công tác là đ/tá Ngô thế Linh,kế đó là đ/tá Trần văn Hai, rồi đ/tá Ngô xuân Nghị.

Ðể yểm-trợ cho SLL và SCT có Sở không yểm, liên-lạc với KQ xin cung- cấp phương-tiện xâm nhập, triệt xuất và yểm-trợ. Phi-đoàn 219 xử-dụng trực thăng H-34 đồn trú ngoài Ðà nẵng thường xuyên tăng phái cho NKT, phi đoàn trưởng là tr/tá Ðặng văn Phước tự Phước đạn đồng, sau này ông lên đ/tá và là Không-đoàn trưởng Không-đoàn 51 chiến-thuật của Sư-đoàn 1 KQ. Sau năm 1972 phi-đoàn 219 chuyển qua UH1-B và rời về Nha trang, số H-34 khiển-dụng được trao lại cho không lực hoàng gia Lào. Những phi-vụ tối ư đặc-biệt ngoài khả-năng của KQVN đều do Không lực Hoa-kỳ đảm trách, đôi khi phát xuất từ các căn-cứ trên lãnh thổ của đệ tam quốc-gia. Chỉ-huy trưởng Sở không yểm là đ/tá Dư quốc Lương.

Công tác hải-vận và biệt hải được giao phó cho Sở phòng vệ duyên-hải đồn trú ở bán đảo Sơn trà, Ðà nẵng, chỉ-huy trưởng là tr/tá Hồ văn Kỳ Thoại, sau này được thăng Ðề-Ðốc. Sau hiệp-định Ba Lê, hoạt-động sở này bị giảm thiểu và sau đó cũng dùng để tăng phái cho các Quân-đoàn để thi-hành công tác sau hậu-tuyến địch trong nội địa miền Nam.

Sở tâm lý chiến có hai đài phát thanh : Tiếng nói tự do và Gươm thiêng ái-quốc, phát thanh ra miền Bắc qua hai đài phát tuyến Cồn Tè ở Quảng Trị và Thanh Lam tại Huế. Sau này đài Gươm thiêng ái-quốc được thay thế bằng đài Mẹ Việt-Nam.

Ð/tá Hổ làm giám-đốc NKT/BTTM từ năm 1964 đến tháng 8/1968. Sau đó đ/tá Ðoàn văn Nu thay thế cho đến ngày cuối cùng của NKT.